NÀNG CƯỚP HỆ THỐNG SINH NỮ, TA LẠI SINH TOÀN HOÀNG TỬ

ĐẠI CHƯƠNG 2



Chương 2

Người trong cả điện không ai không xúc động.

Ngay cả những phi tần ngày thường không ưa Thẩm Nhược Vi, lúc này cũng đỏ hoe mắt.

Ta đứng trong đám người, nhìn cô bé ôm thi thể tỷ tỷ không chịu buông, trái tim như bị người ta siết chặt.

Kiếp trước, hai nữ nhi của ta cũng thân thiết như thế.

Nữ nhi lớn lĩnh binh đánh trận bên ngoài, nữ nhi nhỏ cứu người chữa thương ở hậu phương.

Hai tỷ muội, một người lo việc ngoài, một người gánh việc trong, chống đỡ nửa bầu trời Đại Ung.

Nhưng hai nữ nhi của Thẩm Nhược Vi thì sao?

Một đứa bị ép chết ngay trên cung yến, một đứa bị ép đến chẳng còn hình người.

Ta đi tới, ngồi xổm xuống, nhẹ nhàng ôm lấy nhị công chúa.

“Sơ Nguyệt, đừng khóc nữa…”

Nàng ngẩng đầu nhìn ta.

Đôi mắt ấy khiến ta sững lại.

Đó không phải đôi mắt của một đứa trẻ năm tuổi.

Bên trong không có nước mắt, không có bi thương, cũng không có sợ hãi.

Chỉ có một mảng đen kịt tĩnh mịch.

Nàng nhìn ta chằm chằm hai giây, rồi cúi đầu xuống, lại ôm lấy tỷ tỷ, không nói thêm gì nữa.

Như thể nàng muốn đem chút hơi ấm cuối cùng của mình truyền cho người đã lạnh băng.

6

Hoàng thượng đứng trước long ỷ, sắc mặt xanh mét.

Người nhìn Thẩm Nhược Vi, trong mắt không còn chút thương tiếc nào, chỉ còn chán ghét.

“Thẩm quý nhân, ngươi có biết tội không?”

Thẩm Nhược Vi quỳ trên đất, cả người run rẩy, nhưng vẫn cứng miệng.

“Hoàng thượng! Thần thiếp không có tội! Thần thiếp chỉ muốn công chúa biểu diễn bắn cung. Thần thiếp không biết thân thể nó lại kém như vậy… Thần thiếp không biết…”

Nàng bỗng quay đầu, hung dữ trừng mắt nhìn ta.

“Là nàng! Nhất định là nàng hại!”

Nàng duỗi tay, chỉ thẳng vào mũi ta.

“Thẩm Thanh Hòa! Là tỷ! Tỷ ghen tị nữ nhi của ta, tỷ đã động tay động chân vào cung tên của nó! Là tỷ hại chết nữ nhi của ta!”

Hoàng thượng đập mạnh tay lên tay vịn long ỷ.

“Đủ rồi!”

“Trẫm tận mắt nhìn đại công chúa không kéo nổi cung, tận tai nghe tiếng xương nó gãy, tận mắt thấy máu nó bắn lên đại điện. Ngươi còn muốn trách người khác?”

Thẩm Nhược Vi bị quát đến co rúm lại, nhưng rất nhanh nàng lại thẳng lưng, khóc lóc gào lên:

“Hoàng thượng! Thần thiếp thật sự không biết sẽ thành ra như vậy! Thần thiếp chỉ muốn nó nổi bật! Thần thiếp làm vậy là vì tốt cho nó!”

“Vì tốt cho nó?”

Hoàng thượng cười lạnh một tiếng:

“Ngươi ép chết nữ nhi ruột của mình ngay trên cung yến, đó gọi là vì tốt cho nó?”

Thẩm Nhược Vi há miệng, không nói nên lời.

Hoàng thượng không nhìn nàng nữa.

“Truyền chỉ. Thẩm quý nhân dạy con vô phương, khiến công chúa mất mạng, tội không thể tha.”

“Ngay từ hôm nay, tước bỏ phong hiệu, giáng làm thứ nhân, đày vào lãnh cung!”

Thẩm Nhược Vi ngã quỵ trên đất, thét lên khóc lóc:

“Hoàng thượng! Hoàng thượng tha mạng! Thần thiếp thật sự không cố ý! Thần thiếp…”

Hai thị vệ tiến lên kéo nàng đi.

Nàng giãy giụa, tóc tai bung xõa, trâm vòng rơi đầy đất, trên mặt toàn là nước mắt và nước mũi.

Khi bị kéo khỏi đại điện, nàng bỗng quay đầu, nhìn thấy nhị công chúa vẫn đang ôm thi thể tỷ tỷ.

“Nữ nhi nhỏ của ta! Nữ nhi nhỏ của ta còn ở đó! Các ngươi không thể để con ta lại cho Thẩm Thanh Hòa! Nàng ta sẽ hại chết con ta!”

Nàng chỉ về phía ta, khản giọng gào lên:

“Thẩm Thanh Hòa! Tỷ không được chết tử tế! Tỷ cướp nữ nhi của ta! Tỷ hại ta! Ta làm quỷ cũng sẽ không tha cho tỷ!”

Ta lạnh lùng nhìn nàng.

Giọng nàng càng lúc càng xa, càng lúc càng xa, cuối cùng biến mất ngoài cửa cung.

Đại điện yên tĩnh trở lại.

Hoàng thượng trầm mặc rất lâu, rồi nhìn về phía nhị công chúa đang quỳ trên đất.

Đứa trẻ ấy vẫn ôm thi thể tỷ tỷ, thân thể nhỏ bé co lại thành một cục, giống như chiếc lá sắp bị gió cuốn đi.

Trong mắt Hoàng thượng thoáng qua một tia không nỡ, sau đó người nhìn về phía Huệ tần.

“Huệ tần, từ hôm nay, nhị công chúa giao cho nàng nuôi dưỡng.”

Huệ tần tiến lên một bước, hành lễ:

“Thần thiếp tuân chỉ.”

Nàng đi đến bên cạnh nhị công chúa, ngồi xổm xuống, nhẹ giọng nói:

“Sơ Nguyệt, đi theo bổn cung nhé.”

Sau một lúc lâu, nhị công chúa ngẩng đầu, nhìn nàng một cái.

Cuối cùng, nàng lưu luyến buông thi thể tỷ tỷ ra, đi theo Huệ tần.

Trong hậu cung vĩnh viễn có chuyện mới, tranh đấu mới, người mới.

Sau khi Thẩm Nhược Vi bị đày vào lãnh cung, trong cung chỉ bàn tán một khoảng thời gian ngắn.

Rất nhanh, chẳng còn ai nhắc đến nàng nữa.

Cái chết của đại công chúa giống như một hòn đá ném xuống hồ, gợn lên một vòng sóng, rồi nhanh chóng trở lại yên bình.

Sau khi nhị công chúa được Huệ tần nhận nuôi, Huệ tần đối xử với nàng rất tốt, còn mời thái y ngày ngày điều dưỡng thân thể cho nàng.

Nhưng đứa trẻ ấy không còn mở miệng nói chuyện nữa.

Không phải nàng không biết nói.

Thái y đã kiểm tra, cổ họng nàng không có vấn đề.

Chỉ là nàng không muốn nói.

Mỗi ngày, nàng tự nhốt mình trong phòng, không đọc sách thì luyện thuốc.

Có lúc Huệ tần đưa nàng đến ngự hoa viên đi dạo, nàng đứng giữa khóm hoa, mắt nhìn về phía xa, chẳng biết đang nhìn gì.

Cung nhân lén bàn tán, nói hồn của nhị công chúa đã đi theo đại công chúa rồi, thứ còn lại chẳng qua chỉ là một cái vỏ rỗng.

Ta từng đến thăm nàng vài lần.

Mỗi lần đến, nàng đều ngồi bên cửa sổ, trong tay cầm một quyển y thư, yên lặng đọc.

Ta nói chuyện với nàng, đưa nhị hoàng tử hoạt bát của ta đến chơi cùng nàng, mang điểm tâm ngon cho nàng.

Ta còn bịa chuyện kiếp trước thành những câu chuyện kể cho nàng nghe.

Nàng cứ yên lặng ngồi đó, nghe, thỉnh thoảng đáp lại ta bằng một ánh mắt.

Nhưng cuối cùng, nàng cũng có thêm chút hơi ấm.

7

Trong lãnh cung, Thẩm Nhược Vi phát điên.

Lúc tỉnh táo, lúc hồ đồ.

Khi tỉnh táo, nàng luôn ngồi trên chiếc giường cũ nát, lẩm bẩm một mình:

“Không nên là như vậy… Ta chọn hệ thống sinh đôi tuệ nữ… Ta đáng lẽ phải là người thắng… Sao lại thành ra thế này…”

Khi hồ đồ, nàng sẽ hét vào tường:

“Thẩm Thanh Hòa! Tỷ hại ta! Tỷ hại chết nữ nhi của ta! Ta làm quỷ cũng không tha cho tỷ!”

Ma ma canh giữ lãnh cung nói, mỗi đêm nàng đều gặp ác mộng, hét lên tỉnh dậy, rồi ôm chăn khóc.

Khi khóc, miệng nàng gọi không phải Hoàng thượng, cũng không phải chính nàng.

Mà là: “Nữ nhi của ta.”

Không ai biết nàng đang gọi nữ nhi lớn, hay nữ nhi nhỏ.

Hoặc có lẽ, nàng gọi cả hai.

Ma ma vào đưa cơm, nhìn thấy nàng ngồi trước cửa sổ, chỉ qua một đêm, tóc nàng đã bạc trắng.

Rõ ràng mới hơn hai mươi tuổi, trông nàng lại như một bà lão năm sáu mươi.

Nàng nhận lấy bát cơm, bỗng hỏi một câu:

“Nhị công chúa Sơ Nguyệt… gần đây có khỏe không?”

Ma ma sững ra một chút, nói:

“Nhị công chúa ở chỗ Huệ tần nương nương, được nuôi dưỡng khá tốt.”

Thẩm Nhược Vi cúi đầu, gắp một miếng cơm, nhai rất lâu mà nuốt không trôi.

“Nó… không có lời nào muốn nhắn cho ta sao?”

Ma ma lắc đầu:

“Nhị công chúa đã lâu lắm không nói chuyện rồi.”

Đôi đũa trong tay Thẩm Nhược Vi rơi xuống đất.

Nàng cúi lưng nhặt, quỳ trên đất, nhặt suốt một khắc, cuối cùng bò rạp xuống đất khóc nức nở.

Một ngày nọ, Sơ Nguyệt chủ động xin Huệ tần cho nàng đến lãnh cung thăm Thẩm Nhược Vi.

Hiếm khi nàng đưa ra yêu cầu, Huệ tần đồng ý, còn phái người đi theo bảo vệ nàng.

Nàng đến cửa lãnh cung, mở cửa ra, một mùi ẩm mốc xộc thẳng vào mặt.

Thẩm Nhược Vi co ro trong góc tường, tóc rối thành từng búi, quần áo bẩn thỉu, trên mặt toàn là vệt nước mắt khô.

Khi nhìn thấy nhị công chúa, mắt nàng bỗng sáng lên.

“Sơ Nguyệt! Con đến thăm mẫu phi rồi!”

Nàng nhào tới, muốn ôm Sơ Nguyệt.

Sơ Nguyệt lùi lại một bước.

Tay Thẩm Nhược Vi cứng đờ giữa không trung, nụ cười trên mặt chậm rãi đông cứng lại.

“Sơ Nguyệt… con không nhận ra mẫu phi nữa sao? Ta là mẫu phi của con đây…”

Sơ Nguyệt đứng đó, mặt không cảm xúc nhìn nàng.

Thẩm Nhược Vi bỗng túm lấy tay nàng, lực mạnh như muốn bóp nát xương.

“Sơ Nguyệt, con phải giúp mẫu phi báo thù! Là Thẩm Thanh Hòa hại chết tỷ tỷ con! Là nàng ta! Con phải đi nói với Hoàng thượng, con phải đi tố cáo nàng ta! Tỷ tỷ con không thể chết oan!”

Sơ Nguyệt nhìn nàng, không nói gì.

“Con có nghe không!” Giọng Thẩm Nhược Vi trở nên the thé. “Con là sinh đôi tuệ nữ! Con thông minh hơn tỷ tỷ con! Con nhất định phải giúp mẫu phi báo thù! Con phải khiến nàng ta trả giá!”

Sơ Nguyệt cúi đầu, nhìn bàn tay mình đang bị nắm chặt.

Sau đó, nàng chậm rãi, chậm rãi rút tay ra.

Nàng lấy từ trong tay áo ra một chiếc bình sứ xanh nhỏ.

Mở nắp bình, đổ ra một viên thuốc, đưa đến trước mặt Thẩm Nhược Vi.

“Con… con cho ta uống thuốc?” Thẩm Nhược Vi nhìn viên thuốc kia, bỗng bật cười. “Vẫn là Sơ Nguyệt của ta thương ta, biết mẫu phi thân thể không tốt, đặc biệt luyện thuốc cho mẫu phi, đúng không?”

Sơ Nguyệt cười với nàng một cái.

Thẩm Nhược Vi nhận lấy viên thuốc, không chút do dự nhét vào miệng, nuốt xuống.

“Sơ Nguyệt, con nói cho mẫu phi biết, đây là thuốc gì? Có phải thuốc bổ thân thể không?”

Sơ Nguyệt nhìn nàng, môi hơi mấp máy.

Người đã tròn một năm không mở miệng nói chuyện, cuối cùng nói ra câu đầu tiên.

“Độc dược.”

Nụ cười của Thẩm Nhược Vi cứng lại trên mặt.

“Con… con nói gì?”

Sơ Nguyệt nhìn vào mắt nàng, nói rõ từng chữ:

“Là ngươi hại chết tỷ tỷ. Ngươi đã ép chết tỷ ấy.”

“Ngươi không phải mẫu phi của ta.”

“Ngươi là hung thủ giết người.”

Thẩm Nhược Vi mở to mắt, khiếp sợ nhìn nữ nhi của mình.

Sơ Nguyệt lùi lại một bước, rồi thêm một bước nữa, giọng bình tĩnh đến đáng sợ.

“Tỷ tỷ và ta, đều chỉ là quân cờ của ngươi.”

Thẩm Nhược Vi quỳ rạp xuống đất, bắt đầu nôn mửa, thứ nôn ra toàn là máu đen.

Sơ Nguyệt đứng ở phía xa, nhìn mẫu phi của mình giãy giụa trên đất.

Nàng lạnh lùng mở miệng:

“Ngươi nên xuống đó sớm hơn, xin lỗi tỷ tỷ ta, chuộc tội với tỷ ấy.”

Nàng xoay người rời đi.

Thẩm Nhược Vi bò trên đất, nhìn bóng lưng nữ nhi rời xa, cuối cùng phát ra tiếng gào cuối cùng:

“Không… nên… là… như… vậy…”

8

Hai ngày sau, ta mới biết Thẩm Nhược Vi đã chết.

Hôm ấy, Huệ tần đến tìm ta, sắc mặt rất khó coi.

“Nương nương, bên lãnh cung… Thẩm thứ nhân không còn nữa.”

“Ngỗ tác đã khám nghiệm, là trúng độc, nhưng không tra ra là độc gì.”

Ta im lặng rất lâu.

“Nhị công chúa đâu?”

Huệ tần đứng đó, hốc mắt đỏ lên.

“Đứa trẻ ấy…” Giọng nàng hơi khàn. “Ta nuôi nó một năm. Nó chưa bao giờ nói chuyện, ta cứ tưởng nó không biết nói. Nhưng đêm nó rời đi, nó quỳ trước cửa phòng ta suốt một đêm.”

“Sáng hôm sau khi ta mở cửa, nó dập đầu với ta ba cái.”

“Rồi đi mất.”

Huệ tần cúi đầu, dùng tay áo lau mắt.

“Ta không ngăn được.”

Trong lòng ta bỗng dâng lên một cảm giác không thể nói rõ.

Đứa trẻ ấy mới sáu tuổi.

Một đứa trẻ sáu tuổi, tự tay độc chết mẹ ruột của mình, rồi biến mất không tung tích.

Nàng đã đi đâu? Nàng có thể đi đâu?

Ta không biết.

Sau khi Huệ tần rời đi, ta ngồi trước cửa sổ, nhìn sắc trời bên ngoài từng chút từng chút tối xuống.

Ta nhớ lại dáng vẻ khi Thẩm Nhược Vi vừa vào cung.

Khi đó nàng đắc ý biết bao, cướp được hệ thống 【sinh đôi tuệ nữ】, cho rằng mình thắng chắc rồi.

Nàng tưởng mình có bài tốt thì sẽ thắng.

Nhưng nàng không biết, bài tốt đến đâu cũng phải xem người đánh bài là ai.

Đến chết, nàng cũng không hiểu. Nàng thua không phải vì hệ thống, mà vì chính bản thân nàng.

Nhiều năm sau.

Sáu con trai của ta đều trưởng thành.

Con trai cả được phong làm Thái tử.

Nó trầm ổn kín đáo, tâm tư tỉ mỉ, giống Hoàng thượng nhất, nhưng lại nhân hậu hơn Hoàng thượng vài phần.

Đại thần trong triều đều nói Thái tử điện hạ có phong thái minh quân.

Con trai thứ hai không thích triều đường, chỉ thích giang hồ.

Năm mười lăm tuổi, nó để lại một phong thư, nói muốn “ngao du thiên hạ, ngắm nhìn vạn dặm non sông Đại Ung”.

Nó đi năm năm, thỉnh thoảng gửi về vài món đồ kỳ lạ: hương liệu Tây Vực, trân châu Nam Hải, da sói Bắc Cương.

Hoàng thượng mắng nó “không nên thân”, nhưng ta lại cảm thấy nó sống tự tại hơn bất kỳ ai.

Con trai thứ ba là hoàn khố nổi danh kinh thành.

Nó chọi gà dắt chó, nghe hát xem hí, bao trọn tửu lâu tốt nhất kinh thành để mời khách.

Ngự sử đàn hặc nó, Hoàng thượng quở trách nó. Nó tai trái nghe tai phải lọt, cười hì hì nhận sai, rồi lại tiếp tục.

Nhưng ta biết đứa trẻ này tâm địa không xấu.

Một mùa đông nọ, nó quyên hết toàn bộ bạc tháng của mình cho trại dân tị nạn ngoài thành, không nói với bất kỳ ai.

Con trai thứ tư và thứ năm là song sinh, một đứa tên Lý Thừa Viễn, một đứa tên Lý Thừa Chinh.

Thừa Viễn thích múa đao múa thương, mười sáu tuổi đã theo đại tướng quân đến biên quan, đánh trận ba năm, được phong tướng quân.

Thừa Chinh thích đọc sách, vào Hàn Lâm viện, là văn thần được Hoàng thượng trọng dụng nhất.

Con trai thứ sáu là đứa khiến ta nhìn không thấu nhất.

Từ nhỏ nó đã ít nói, không thích chơi cùng các ca ca, luôn một mình trốn trong thư phòng đọc sách.

Nó đọc không phải Tứ thư Ngũ kinh, cũng không phải binh pháp thao lược, mà là những quyển tạp thư.

Huyện chí các nơi, môn phái giang hồ, gia phả của đại thần trong triều.

Nó chưa bao giờ tranh giành thứ gì, cũng chưa bao giờ thể hiện điều gì.

Khi huynh đệ ở cùng nhau, nó luôn đứng ngoài rìa, yên yên lặng lặng, giống như một cái bóng.

Cũng chính nó giúp ta tìm được tung tích của Sơ Nguyệt.

“Nhị tỷ đang ở Giang Nam, đổi tên rồi, mở một hiệu thuốc, chuyên chữa bệnh cho người nghèo khổ.”

“Mẫu phi, có cần đưa tỷ ấy về không?”

Ta lắc đầu.

“Không cần.”

Ta biết nàng vẫn bình an là đủ rồi.

Thừa Hối không hỏi thêm, hành lễ rồi lui ra.

9

Lại qua vài năm.

Hoàng thượng già rồi.

Sức khỏe của người ngày một kém, thái y nói là lao lực quá độ, cần tĩnh dưỡng.

Nhưng người không rảnh rỗi được, ngày ngày vẫn phê tấu chương, gặp đại thần.

Ta từng khuyên vài lần, người không nghe.

Người luôn nắm tay ta hỏi:

“Thanh Hòa, nàng yêu trẫm không?”

Ta nhìn vào mắt người. Đôi mắt từng sắc bén như chim ưng ấy, giờ đã đục đi.

Ta mỉm cười:

“Thần thiếp đương nhiên yêu Hoàng thượng.”

Hoàng thượng cũng cười, giống như một đứa trẻ vừa được cho kẹo.

Người nói:

“Trẫm biết. Trẫm vẫn luôn biết.”

Ta quay đầu, nhìn bầu trời ngoài cửa sổ, không nói gì.

Yêu ư?

Kiếp trước, ta đã không yêu người.

Kiếp này, càng không.

Ta chỉ là đã sống hai kiếp trong chốn thâm cung này, quá hiểu nên trả lời thế nào mới khiến người hài lòng.

Đến chết, Hoàng thượng vẫn cho rằng ta yêu người.

Ngày người băng hà, người nắm tay ta, nói:

“Thanh Hòa, chuyện may mắn nhất đời trẫm chính là cưới được nàng.”

Ta nói:

“Thần thiếp cũng vậy.”

Người nhắm mắt, khóe miệng vẫn mang theo ý cười.

Ta đứng trước giường người, nhìn nam nhân đã bầu bạn với ta mấy chục năm.

Trong lòng không có bi thương, cũng không có giải thoát, chỉ có một sự bình tĩnh khó nói rõ.

Người là một vị hoàng đế tốt, nhưng không phải một người chồng tốt.

Người từng yêu ta, nhưng người càng yêu giang sơn hơn.

Còn ta thì sao?

Ta từng yêu ai?

Ta chỉ yêu chính mình, còn có các con của ta.

Thái tử đăng cơ.

Ta được tôn làm Hoàng thái hậu, dọn vào Từ Ninh cung.

Con cả Thừa An làm hoàng đế, lập một hoàng hậu hiền đức, xử lý triều chính đâu vào đấy.

Con thứ hai Thừa Bình vẫn còn ngao du, thỉnh thoảng gửi thư về, nói nó đã đến bờ Đông Hải, nhìn thấy tiên sơn trong truyền thuyết.

Con thứ ba Thừa Hòa vẫn là bộ dạng hoàn khố ấy. Tân đế đã quở trách nó mấy lần, nó cười hì hì nhận sai, quay đầu lại đi chọi gà.

Con thứ tư Thừa Viễn trấn thủ biên quan mười năm, đánh cho man tộc phương Bắc phải ngoan ngoãn quy phục.

Con thứ năm Thừa Chinh làm nội các thủ phụ, cùng hoàng huynh của nó, một văn một võ, trị thiên hạ đến cảnh sông trong biển yên.

Con thứ sáu Thừa Hối… vẫn như cũ.

Mùa xuân năm ấy, Thừa Hối bỗng đến Từ Ninh cung tìm ta.

“Mẫu phi, nhi thần muốn đưa người đến một nơi.”

“Đi đâu?”

“Giang Nam.”

Ta nhìn nó, nó nhìn ta. Mẫu tử chúng ta đối diện rất lâu.

“Là đi thăm nàng?” Ta hỏi.

Thừa Hối gật đầu.

Ta im lặng rất lâu, cuối cùng nói:

“Được.”

Chúng ta vi phục xuất cung, ngồi thuyền ba ngày, đến một trấn nhỏ ở Giang Nam.

Trấn không lớn, tựa núi gần sông, rất yên tĩnh.

Thừa Hối đưa ta đến một con phố nhỏ. Góc phố có một hiệu thuốc, trên cửa treo một tấm biển, viết ba chữ: An Tế Đường.

Trước cửa hiệu thuốc xếp một hàng dài, đều là những người nghèo khổ.

Một nữ tử ngồi sau quầy, đang bắt mạch cho một bà lão.

Nàng mặc y phục màu nhạt, tóc búi bằng một cây trâm gỗ, trên mặt không son phấn.

Dung mạo của nàng có bảy phần giống hai nữ nhi kiếp trước của ta.

Ta đứng từ xa nhìn nàng.

Nàng gầy hơn trước, nhưng tinh thần tốt hơn khi còn nhỏ rất nhiều.

Sắc mặt tuy vẫn hơi tái nhợt, nhưng trong mắt đã có ánh sáng.

Nàng đang cười.

Nàng kê xong phương thuốc cho bà lão. Bà lão nắm tay nàng, nói:

“An đại phu, cô đúng là Bồ Tát sống.”

Nàng cười lắc đầu:

“Bà bà đừng nói vậy, ta chỉ làm việc mình nên làm thôi.”

Nụ cười ấy ấm áp mà sáng trong.

Giống hệt nữ nhi nhỏ của ta ở kiếp trước.

Thừa Hối đứng bên cạnh ta, khẽ nói:

“Mẫu phi, có cần đưa tỷ ấy về không?”

Ta nhìn cô nương kia, nhìn rất lâu rất lâu.

Sau đó, ta lắc đầu.

“Không cần.”

“Nàng sống rất tốt.”

“Chúng ta đi thôi.”

Thừa Hối không hỏi thêm, đỡ ta xoay người rời đi.

Sơ Nguyệt nghe thấy.

Từ bước chân đầu tiên khi chúng ta đi vào con phố này, nàng đã nghe thấy rồi.

Thính lực của nàng là được rèn ra từ năm ba tuổi, khi bị ép nhận biết độc dược.

Thạch tín không mùi, hạc đỉnh hồng hơi chát, mùi của đoạn trường thảo giống như hạt đậu hỏng.

Nàng phải ngửi ra từ cách ba thước, nếu không sẽ bị đánh.

Sau này, nàng học được cách nghe.

Nhưng nàng không ngẩng đầu.

Cho đến khi chuỗi tiếng bước chân kia càng đi càng xa, gần như không còn nghe thấy nữa.

Nàng mới ngẩng đầu.

Ở phía xa, bóng lưng kia được người đỡ rời đi.

Nước mắt nàng rơi xuống.

Nhưng nàng không gọi.

Nàng chỉ nhìn từ xa, khóe miệng chậm rãi cong lên.

“Mẫu phi, cảm ơn người.”

Sau quầy thuốc có đặt một chiếc bình sứ xanh.

Nàng cầm lên, áp vào mặt, nhắm mắt lại.

“Tỷ tỷ,” nàng khẽ nói, “muội đã nhìn thấy mẫu phi của chúng ta rồi.”

“Người sống tốt như kiếp trước.”

“Tỷ yên tâm đi, người mà muội giết chết không phải mẫu phi thật sự của chúng ta.”

Gió thổi qua rèm cửa hiệu thuốc, phát ra tiếng động khe khẽ.

Giống như có ai đó đang đáp lại nàng.

Một lát sau, nàng mở mắt, đặt chiếc bình sứ xanh trở lại dưới quầy.

Trước cửa vẫn còn bệnh nhân đang chờ.

Nàng hít sâu một hơi, ngẩng đầu lên.

“Người tiếp theo.”

Ánh mặt trời từ cửa chiếu vào, rơi trên bộ y phục màu nhạt của nàng.

Nàng ngồi trong ánh sáng, bắt mạch cho người nghèo khổ tiếp theo.

An Tế Đường.

An tế thiên hạ.

Đây là con đường do chính nàng chọn.

Không phải trưởng công chúa, không phải thần y, cũng không phải số mệnh do bất kỳ hệ thống nào ban cho.

Chỉ là chính nàng.

Một bàn, một ghế, một tủ thuốc thơm, bệnh nhân đến rồi đi.

Không đứng trên vạn người, không cần danh động bốn phương.

Như vậy là đủ rồi.

(HOÀN)

Chương trước
Loading...