DI VẬT CUỐI CÙNG CỦA BÀ NỘI

CHƯƠNG 2



Bên kia mương nước làng tôi có một nhà họ Chu, con gái tên Chu Phương, lớn hơn tôi năm tuổi, mọi người hay gọi là chị Phương. Chị học lớp 11 trên huyện, mỗi lần về đều mang sách giáo khoa cũ cho tôi.

“Nhất định phải thi đỗ đại học, đến một thành phố lớn ở miền Nam.” Lần nào chị cũng dặn tôi như vậy.

Tôi chưa từng thấy thành phố lớn, nhưng trong mắt chị Phương có ánh sáng, ánh sáng đó không thể là giả được.

Tôi xoay người, cuộn chặt chăn lại.

“Mình phải sống.” Tôi tự nói với chính mình, giọng nhỏ đến mức chính tôi suýt nữa cũng không nghe thấy.

Chương 3

Ngày thứ năm sau khi bà nội hạ huyệt, chú ba và thím ba đến.

Thím ba vừa bước qua cửa đã khóc òa lên, khóc to đến mức cả con ngõ đều nghe thấy.

“Mẹ già tội nghiệp của con ơi, lúc đi đến miếng cơm nóng cũng không được ăn!”

Chú ba đứng giữa sân hút thuốc, nhưng cặp mắt thì láo liên quét quanh đồ đạc trong nhà.

Tôi bê hai cái ghế ra, rót hai cốc nước lọc.

“Chú ba thím ba ngồi đi ạ.”

Thím ba lau khô nước mắt, tốc độ nhanh như vặn vòi nước.

“Vọng Vọng, bố mẹ mày đâu?”

“Họ về huyện rồi ạ.”

“Vứt một mình mày ở đây à?”

“Vâng.”

Thím ba và chú ba nhìn nhau, cái ánh mắt giao tiếp giữa người lớn với nhau ấy, tôi hiểu.

“Bà nội mày lúc còn sống có dặn mày không,” Chú ba gõ gõ tàn thuốc, “Đồ đạc của bà định chia chác thế nào?”

“Bà không có đồ đạc gì cả.”

“Bớt lươn lẹo với chú đi.” Giọng chú ba chùng xuống, “Sợi dây chuyền vàng của bà mày, thím cả mày đi rêu rao khắp nơi là mẹ mày lấy rồi. Chú phải hỏi cho ra nhẽ.”

“Bố mẹ con bảo không tìm thấy.”

“Không tìm thấy?” Thím ba đứng phắt dậy, “Vậy ai lấy? Bà mày cả đời chắt bóp tiết kiệm, chỉ riêng sợi dây đó bèo nhất cũng bảy tám ngàn tệ, chẳng lẽ nó tự mọc chân chạy mất?”

“Thím ba, con mới 11 tuổi, con thì biết cái gì?”

Thím ba lườm tôi một cái, bĩu môi.

“Thế bà mày có để lại tiền mặt không? Sổ tiết kiệm? Đồ gì có giá khác?”

“Bố con lục rồi, bảo tìm được hơn 1.000 tệ.”

“Chỉ có hơn 1.000?”

“Vâng.”

Chú ba ném mẩu thuốc lá xuống đất di chân lên, đứng dậy bước vào nhà.

“Chú ba làm gì thế?”

“Chú xem thử.”

Ông ta lượn một vòng quanh nhà, lục tủ đồ, lật cả ván giường. Tôi đứng ngoài cửa nhìn ông ta, mặt không biểu cảm, nhưng lưng áo ướt sũng mồ hôi.

Ông ta không nhòm ra phía sau bếp.

Hòn gạch lỏng lẻo đó đang bị đè bởi một cái nồi sắt dính đầy tro bụi, hoàn toàn không nhìn ra dấu vết từng bị động vào.

Thím ba cũng hùa theo vào tìm, hai người lục lọi suốt hai mươi phút, cuối cùng chẳng thu hoạch được gì.

“Chắc chắn bố mẹ mày đã vơ vét hết đồ tốt đi rồi.” Thím ba nghiến răng nói, “Để đó tao tìm bố mày tính sổ.”

Chú ba phủi bụi trên tay, trước khi đi liếc nhìn tôi một cái.

“Vọng Vọng, nếu tìm thấy đồ gì thì gọi điện cho chú. Chú ba sẽ không để mày thiệt đâu.”

Ông ta để lại một số điện thoại, viết trên vỏ bao thuốc lá.

Tôi nhận lấy, gật đầu.

Đợi hai người đi khuất, tôi xé nát tờ giấy đó, ném vào bếp lò.

Chú ba không để tôi thiệt thòi ư?

Năm ngoái lúc bà ốm, ông ta có bước chân vào cái sân này nửa bước không?

Từ ngày hôm nay, tôi phải nâng cao cảnh giác. Dây chuyền vàng và số tiền lớn không thể cứ cất trong kho mãi được, phải đổi chỗ.

Tôi đào một cái hố dưới gốc cây táo góc sân, dùng túi nilon bọc kín tiền và dây chuyền lại, chôn xuống, lấp đất lên, trồng thêm một cây ớt con.

Sẽ chẳng ai rảnh rỗi để ý xem dưới một gốc ớt có chôn cái gì.

Chương 4

Tháng 9, tôi đeo chiếc cặp sách cũ của bà nội để lại, bước vào phòng học lớp sáu của trường tiểu học xã.

Cả lớp có 42 người, không ai biết tôi.

Nhưng ai cũng nhận ra cái vẻ nghèo hèn, rách rưới trên người tôi.

Quần áo là đồ bà nội sửa lại, cổ áo rộng ngoác, tay áo dài che kín mu bàn tay. Giày là đôi giày vải trắng chị Phương cho từ năm ngoái, mũi giày đã mòn rách, tôi lấy phấn trắng tô lên, nhìn từ xa cũng tàm tạm.

 

Chỗ ngồi của tôi ở bàn cuối sát tường.

Giờ Toán, cô giáo viết một bài toán đố lên bảng. Cả lớp không ai giơ tay.

“Trần Vọng, em lên làm thử xem.”

Tôi đứng dậy, giải xong.

Cô giáo hơi sững sờ.

“Đúng rồi.”

Cô nhìn tôi thêm hai lần, không nói gì nữa.

Lúc tan học, bạn nữ ngồi bàn trên quay xuống.

“Cậu chuyển từ đâu tới vậy?”

“Không chuyển trường, mình học ở đây từ trước rồi.”

“Sao trước giờ không thấy cậu?”

“Học kỳ trước mình xin nghỉ.”

Cô bạn “Ồ” một tiếng, không hỏi thêm nữa.

Thành tích của tôi trước nay chưa từng tệ. Lúc bà nội còn sống, tôi đã lật xem mấy cuốn sách cũ chị Phương cho không biết bao nhiêu lần. Bài tập toán tôi làm đi làm lại ba lượt, nhớ cả đáp án. Toàn bộ chương trình học kỳ I lớp 6 tôi đã tự học xong từ năm ngoái, lên lớp bây giờ chỉ coi như ôn tập.

Buổi trưa không về nhà ăn cơm, tôi mang theo hai cái màn thầu nguội, ngồi xổm ở góc sân trường gặm.

Có người đi ngang qua liếc nhìn.

Nhìn thì nhìn, tôi cũng chẳng rơi miếng thịt nào.

Trên đường đi học về phải ngang qua nhà chị Phương.

Hôm nay chị ấy tình cờ có ở nhà.

“Vọng Vọng!” Chị thò đầu ra khỏi tường bao, trên tay cầm một quả táo, “Lại đây, chị lấy cho em ít đồ.”

Tôi đi vào.

Chị Phương cao lên nhiều so với lần trước gặp, tóc buộc đuôi gà, mặc đồng phục trường cấp ba trên huyện, trông rất sạch sẽ và tràn đầy sức sống.

“Chị lên 12 rồi, năm sau thi đại học.” Chị dúi quả táo vào tay tôi, rồi lôi từ trong tủ ra mấy quyển sách, “Đây là sách giáo khoa cấp hai của chị, em giữ lấy mà xem trước.”

“Em cảm ơn chị Phương.”

“Em đi học buổi sáng chiều về hay ở nội trú?”

“Em đi học rồi về.”

“Mỗi ngày đi bộ bao xa?”

“Hai mươi phút ạ.”

Chị gật đầu, lại hỏi: “Bố mẹ em vẫn không quan tâm gì đến em à?”

Tôi cắn một miếng táo, không đáp.

“Vọng Vọng,” Chị ngồi xổm xuống, nhìn thẳng vào mắt tôi, “Em nhất định phải học hết lớp sáu, sau đó lên trường huyện học cấp hai. Cấp hai là giáo dục bắt buộc, không mất tiền học đâu.”

“Trường cấp hai trên huyện xa lắm ạ.”

“Đạp xe mất bốn mươi phút. Chị có chiếc xe đạp cũ, đến lúc đó chị cho em.”

“Thật không ạ?”

“Chị lừa em làm gì.”

Chị xoa xoa đầu tôi.

Tối hôm đó về nhà, tôi lật sách giáo khoa cấp hai chị Phương cho, bắt đầu đọc từ trang đầu tiên.

Bóng đèn điện công suất yếu, đọc rất mỏi mắt, nhưng cứ mỗi lần đọc thêm một trang, tôi lại cảm thấy mình gần cái “thành phố lớn” kia thêm một bước.

Chương 5

Mùa đông đến rất nhanh.

Bắp cải ngoài vườn chết cóng hết, chỉ còn củ cải là ăn được.

Cơm mỗi ngày của tôi là củ cải luộc nước trắng, thêm một nắm mì sợi. Thỉnh thoảng tiết kiệm được vài đồng thì mua một lạng thịt lợn thái sợi, có thể xào ăn được ba bữa.

Một hôm đi học về, tôi phát hiện cửa cổng không khóa.

Đẩy cửa vào, thấy mẹ tôi đang ngồi giữa nhà cắn hạt dưa.

“Mẹ? Sao mẹ lại đến đây?”

“Đến xem mày thế nào.”

Bà ta đảo mắt đánh giá tôi một lượt từ trên xuống dưới.

“Sao gầy gò thế này? Mặt chẳng có tí thịt nào.”

“Mùa đông không có rau ăn.”

“Tiền bố mày để lại đâu?”

“Mua gạo mua bột hết rồi, chẳng còn mấy.”

Bà ta tặc lưỡi một cái, không gặng hỏi thêm.

Tôi biết thừa bà ta chẳng rảnh rỗi đến thăm tôi.

Quả nhiên, bà ta gạt đống vỏ hạt dưa trên bàn sang một bên, mở lời.

“Em mày học kỳ này đăng ký lớp bồi dưỡng Toán Olympic, một kỳ mất 6.000 tệ, lương bố mày không kham nổi. Tao tính thế này, cái nhà này của bà nội mày bỏ không cũng phí, hay là đem cho thuê?”

“Cho ai thuê hả mẹ?”

“Cháu trai ông Lưu ở đầu làng đang sắp cưới vợ, muốn thuê tạm cái sân làm tiệc cưới. Một tháng trả 500 tệ.”

“Thế con ở đâu?”

Mẹ tôi cắn nốt hạt dưa cuối cùng, nhổ vỏ xuống bàn.

“Mày qua nhà kho mà ở, có một tháng thôi mà.”

“Nhà kho mùa đông gió lùa tứ bề, âm mười mấy độ đấy mẹ.”

“Hồi bé tao còn khổ hơn thế này nhiều, chịu lạnh một tí có chết ai đâu.”

Tôi cúi gầm mặt nhìn xuống đất.

Chương trước Chương tiếp
Loading...