Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và
Mở Ứng Dụng Shopee để mở khóa toàn bộ chương truyện!
CẢ ĐẠI ĐIỆN CHỜ TA GIÀNH LẠI HÔN ƯỚC, TA LẠI ĐÒI MỘT MÓN NỢ KHÁC
ĐẠI CHƯƠNG 2
Phần 7
Ngày rời kinh, trời cao mây rộng.
Ta cưỡi con ngựa màu đỏ thẫm của mình, trưởng tỷ dẫn học sinh nữ học ngồi xe, Lục Ký Minh dẫn quan sai Đại Lý Tự đi phía sau áp trận.
Khi ra khỏi thành, bánh xe nghiền qua lớp sương mỏng buổi sớm.
Ta chỉ nghĩ đến việc điều tra rõ khoản sổ sách mục nát trong kho quan, không ngờ trên suốt chặng đường lại gặp nhiều bàn tay đưa khế ước tới như vậy.
Khi đến huyện đầu tiên, chúng ta phát hiện số vải được kho quan thu nhận đủ số lượng, sổ sách cũng không có vấn đề, nhưng các phụ nhân dệt vải trong thôn vẫn nghèo đến mức không nộp nổi thuế.
Ta chuyển vào hậu viện của phường dệt, cùng ăn cùng ở với họ, dần dần hiểu rõ thủ đoạn của các thương nhân buôn vải.
Bọn họ lấy lý do “nữ tử không biết tính toán” làm tấm màn che, khi đo vải thì giấu một đoạn thước vào trong tay áo, còn đem danh nghĩa kiểm hàng của kho quan ra dọa người.
Các tú nương không dám trực tiếp giao hàng cho kho quan.
Vải họ vất vả dệt ra, qua thêm một tầng trung gian là giá lại bị ép xuống một phần.
Lục Ký Minh hỏi ta:
“Xử lý thương nhân theo luật, chuyện này có thể xem là kết thúc chưa?”
Ta lắc đầu.
“Đổi một nhóm thương nhân khác, sang năm chuyện này vẫn sẽ tái diễn.”
Trưởng tỷ bảo ta tự nghĩ cách.
Ta dựng một chiếc bàn dài trước cổng huyện nha.
Bên trái dạy mọi người dùng thước, đọc khế ước, bên phải trực tiếp thu vải.
Mỗi tấm vải đều được đo, phân hạng và đăng ký ngay trước mặt người bán.
Tú nương giữ lại biên nhận, huyện nha và bên cung ứng mỗi nơi lưu một bản.
Ban đầu không ai dám đến.
Các thương nhân khoanh tay đứng ở góc phố, cười nhạo chúng ta không trụ nổi đến buổi trưa.
Đến lúc gần thu bàn, một góa phụ tóc đã điểm bạc ôm nửa tấm vải thô tới.
Bà không biết chữ, ngón tay cái lau đi lau lại trên vạt áo, sau đó mới chấm vào mực đỏ để điểm chỉ.
Ta đếm rõ số tiền đồng cần trả ngay trước mặt bà.
Giá cao hơn thương nhân đưa ra, cộng thêm phí vận chuyển cũng không vượt quá giá thu mua của kho quan.
Bà ôm túi tiền rời khỏi huyện nha.
Chưa đến thời gian dùng xong một bữa cơm, bên ngoài đã xếp thành hàng dài.
Khi chúng ta rời đi, các tú nương địa phương đã cùng nhau lập phường hội dệt vải.
Họ bầu người biết chữ làm phòng thu chi, còn mời học sinh nữ học thay phiên nhau đến giảng dạy.
Nơi tiếp theo nổi tiếng về trồng dâu nuôi tằm, nhưng nữ tử lại không được tự mình thuê đất.
Ta lật khắp quyển huyện chí phủ đầy bụi, tìm thấy một lệ cũ: người khai khẩn đất hoang đủ thời hạn có thể được ghi tên vào địa bạ.
Điều luật không viết chỉ cho phép nam tử, nhưng trước đây không ai chịu giúp nữ tử nộp tờ khế ước ấy.
Huyện thừa đẩy thiếp sang góc bàn, nói nữ nhân có đất rồi sớm muộn gì cũng mang theo làm của hồi môn vào nhà chồng.
Lục Ký Minh đẩy thiếp trở lại trước mặt hắn.
Còn ta dẫn những nữ tử đang chờ ngoài cửa lần lượt nộp khế ước.
Huyện thừa tức giận nói trước nay chưa từng có tiền lệ như vậy.
Ta đặt điều luật lên bàn của hắn.
“Hôm nay làm, ngày mai sẽ có tiền lệ.”
Lục Ký Minh đứng bên cạnh bổ sung:
“Không làm cũng được. Ta vừa hay có thể điều tra vì sao huyện nha dám đổi quốc luật thành luật chỉ dành cho nam nhân.”
Khi ánh chiều tà chiếu vào phòng ký nhận, một chồng khế ước đất hoang cuối cùng cũng được đóng đủ dấu.
Người phụ nữ trồng dâu đứng đầu nâng tờ giấy mỏng trong tay, lật qua lật lại xem, giống như đang nâng một mảnh đất mới.
Trên đường đi, ta từng gặp góa phụ bị nhà chồng cướp mất khung cửi, cũng từng gặp cô gái thuộc lòng thơ văn nhưng không được đi học.
Bọn họ có tay nghề, cũng chịu được gian khổ, nhưng lại bị cản đường bởi một cây thước đã bị gian lận và một tờ khế ước không ai chịu tiếp nhận.
Ta bắt đầu ghi chép những điều mắt thấy tai nghe mỗi ngày.
Trưởng tỷ xem xong sổ của ta, nói:
“A Hành, muội đã tìm được chuyện mình muốn làm hơn cả thành hôn rồi.”
Ta nhìn tơ trắng đang phơi ngoài cửa sổ, gật đầu.
Trước đây, ta khao khát Vệ Tri Hành toàn tâm toàn ý yêu mình, giống như chỉ cần được một người kiên định lựa chọn thì có thể chứng minh ta quý giá.
Bây giờ nghĩ đến câu “Vệ Tri Hành yêu ai nhất”, ta lại cảm thấy giống như đang nghĩ về một chuyện cũ đã cách mình rất xa.
Những quyển sổ do chính tay ta làm rõ, những tờ khế ước được đóng dấu, số tiền đồng mà tú nương mang về nhà, tất cả đều có thể cầm được và nhìn thấy được.
Giá trị của ta không cần chờ ai gật đầu công nhận.
Lục Ký Minh cũng đang thay đổi.
Ban đầu, hắn chỉ quan tâm điều tra vụ án, ai phạm luật thì bắt người đó.
Sau này hắn cũng bắt đầu hỏi, bắt xong người rồi, năm sau đổi một nhóm thương nhân buôn vải khác thì phải làm thế nào.
Khi ta thương lượng giá với tú nương, hắn ngồi trên bậc cửa ghi chép giá lương thực tại địa phương.
Đêm khuya, hắn còn cùng trưởng tỷ lật tìm những vụ án cũ liên quan đến tài sản của nữ tử.
Hắn không nói lời ngon tiếng ngọt.
Ta cưỡi ngựa nhanh, hắn chưa từng bảo ta đi chậm, chỉ kiểm tra đoạn đường tiếp theo có an toàn hay không.
Ta tranh luận với huyện lệnh đến đỏ mặt tía tai, hắn không khuyên ta dịu dàng, mà chuẩn xác lật điều luật có thể sử dụng đến đúng trang.
Một đêm nọ, chúng ta đi đường lỡ mất dịch trạm, chỉ có thể nghỉ chân trong một ngôi miếu hoang.
Ta ngồi đối diện ngọn đèn kiểm tra sổ sách, hắn dựa vào cột hành lang sắp xếp hồ sơ vụ án, không ai quấy rầy ai.
Khi gió thổi tung các trang giấy, hắn đưa tay giữ giúp ta một góc.
Ta bỗng cảm thấy như vậy rất tốt.
Hai người đều nhận rõ phương hướng, dưới chân mỗi người đều có con đường riêng, vừa hay có thể sóng vai đi cùng nhau một đoạn.
Phần 8
Cuộc tuần tra còn chưa kết thúc, trong kinh đã phái ngựa nhanh mang công văn trong cung tới.
Bức bình phong Bách Điểu Triều Phượng do Liễu Thê Nguyệt dâng lên Thái hậu sắp được ghi vào danh sách lễ mừng thọ.
Trong cung kiểm tra phát hiện khế cửa hiệu của tú trang thuộc về ta, vì thế lệnh cho ta trở về kinh giải thích.
Trưởng tỷ ở lại huyện ngoài giải quyết những việc còn lại.
Ta và Lục Ký Minh đi suốt đêm trở về kinh, lúc vào thành, vạt áo vẫn còn dính bụi trên đường dịch trạm.
Ngày tổ chức tiệc mừng thọ Thái hậu, ta mang theo khế ước gốc của tú trang và giấy nợ vào cung.
Chứng cứ được đăng ký trước tại cổng cung, sau đó do nữ quan quản sự niêm phong trong một chiếc tráp sổ sách bằng gỗ mun.
Liễu Thê Nguyệt dâng bức bình phong Bách Điểu Triều Phượng.
Bình phong được thêu bằng mười tám loại đường kim, cánh của trăm loài chim dưới ánh đèn sáng lấp lánh.
Thái hậu vô cùng yêu thích, ngay trước mặt mọi người hỏi nàng ta muốn được ban thưởng điều gì.
Nàng ta quỳ giữa điện, nói chỉ mong báo đáp ân nuôi dưỡng của Bùi gia, không dám cầu thưởng.
Thái hậu khen nàng ta biết báo ân.
Mẫu thân thuận thế nhắc đến chuyện hôn nhân của nàng ta gặp nhiều khó khăn, nói Liễu gia không còn ai chống lưng, dù có tài danh vẫn luôn thấp hơn người khác một bậc.
Mẫu thân của Vệ Tri Hành từ lâu đã thích sự dịu dàng ngoan ngoãn của Liễu Thê Nguyệt.
Quan trọng hơn, gần đây Vệ gia bị Ngự sử đàn hặc vì quản quân không nghiêm, rất cần Thái hậu nói giúp.
Vệ phu nhân liền ngầm ám chỉ trong yến tiệc rằng Vệ Tri Hành từng cứu Liễu Thê Nguyệt trong cuộc săn mùa xuân, hai người đã có tiếp xúc da thịt, Vệ gia nguyện chịu trách nhiệm.
Cái gọi là cứu mạng chẳng qua là Liễu Thê Nguyệt trượt xuống từ một sườn dốc thấp, Vệ Tri Hành đưa tay đỡ nàng ta một cái.
Nhưng khi lời đồn, lợi ích và sự thiên vị tụ lại với nhau, một chuyện nhỏ cũng trở thành lý do đủ để thay đổi hôn ước.
Thái hậu nhìn sang ta.
“Bùi nhị cô nương, con và Tri Hành tuy đã có hôn ước nhưng rốt cuộc vẫn chưa hoàn thành đủ sáu lễ. Thê Nguyệt đã mất thanh danh, chi bằng con nghĩ đến tình tỷ muội, để nàng ấy vào Vệ gia làm bình thê trước. Con vẫn là chính thất, cũng không xem là chịu ấm ức.”
Ánh mắt khắp đại điện đều đổ dồn lên người ta.
Mẫu thân ngồi cách một dãy tiệc liên tục nháy mắt với ta, Bùi Cảnh Tu cũng nhỏ giọng giục ta tạ ơn.
Vệ Tri Hành đột ngột đứng dậy, nói mình tuyệt đối không có ý định cưới Liễu Thê Nguyệt.
Nhưng Vệ phu nhân lập tức kéo hắn lại, nhắc hắn rằng Vệ gia đang gặp khó khăn.
Hắn nhìn mẫu thân mình, lại nhìn Liễu Thê Nguyệt, cuối cùng nhìn về phía ta.
Trong ánh mắt ấy có hoảng loạn, có cầu xin, còn có một sự mong đợi mà ta vô cùng quen thuộc.
Hắn lại đang chờ ta thu dọn cục diện rối rắm.
“A Hành.”
Hắn khàn giọng nói:
“Cho dù được ban hôn, trong lòng ta cũng chỉ có nàng. Nàng cứ đồng ý trước, đợi Vệ gia vượt qua khó khăn, ta nhất định sẽ bù đắp cho nàng.”
Ta lập tức bật cười.
“Vệ công tử, Thái hậu đang hỏi chuyện hôn nhân, không hỏi trong lòng chàng có thể chứa được bao nhiêu người. Trái tim chàng đã rộng rãi như vậy thì cứ để dành cho biểu tỷ.”
Ta đứng dậy đi đến giữa điện, tháo ngọc bội đính hôn, ném vào lòng Vệ Tri Hành.
“Thần nữ nguyện từ hôn, thành toàn cho Vệ gia và Liễu gia.”
Thần sắc Thái hậu dịu đi, tưởng rằng ta đã biết điều.
Ta ra hiệu cho nữ quan quản sự.
Chiếc tráp sổ sách bằng gỗ mun đã được kiểm tra và niêm phong tại cổng cung được vững vàng đặt dưới ngự án.
“Nhưng hôn ước có thể nhường, món nợ thì không thể nhường. Liễu cô nương nợ thần nữ sáu nghìn lượng. Ngựa và yên cương Vệ công tử đang sử dụng trị giá hai nghìn lượng. Ngoài ra, mẫu thân và huynh trưởng đã lấy đi chín nghìn lượng. Tổng cộng một vạn bảy nghìn lượng.”
“Khế ước nợ, khế ước cửa hàng đều ở đây. Nhân chứng liên quan cũng đã được trong cung đăng ký.”
Trong đại điện hoàn toàn im lặng.
Mẫu thân thất thanh nói:
“Chuyện trong nhà, con mang đến trước mặt Thái hậu làm gì?”
“Vừa rồi khi mẫu thân xin Thái hậu xử lý hôn sự của ta, người đâu có nói đây là chuyện nhà.”
Ta quay sang Thái hậu, đoan chính hành lễ.
“Thần nữ nguyện chúc Liễu cô nương và Vệ công tử kết thành lương duyên. Nhưng thần nữ không muốn dùng bạc của mình để chuẩn bị hôn sự cho bọn họ. Xin Thái hậu đã làm người mai mối thì cũng làm chứng cho thần nữ: hai nhà ngày nào trả hết nợ, ngày đó thành hôn.”
Sắc mặt Thái hậu thay đổi.
Bà vốn muốn dùng một cuộc ban hôn để thể hiện lòng nhân từ.
Nếu lúc này ép sổ sách xuống, ngày mai bên ngoài sẽ đồn rằng Thái hậu giúp Vệ gia cưỡng đoạt tài sản của một nữ tử.
Phụ thân đang thay triều đình tuần tra đường sông, nữ học của trưởng tỷ lại từng được bệ hạ đích thân khen ngợi.
Dù thế nào bà cũng không thể gánh tiếng xấu này.
Thái hậu ra lệnh cho nữ quan quản sự mở niêm phong ngay tại điện.
Khế ước cửa hàng đã được kiểm tra ở cổng cung, con dấu đầy đủ.
Giấy nợ do Liễu Thê Nguyệt ký được đặt trên cùng.
Bức bình phong Bách Điểu Triều Phượng cũng bị điều tra ra là được làm bằng bạc của ta.
Thái hậu dù yêu thích đến đâu, cầm món quà mừng thọ do chủ nợ bỏ tiền ra làm trước mặt mọi người cũng cảm thấy bỏng tay.
Bà ra lệnh mang bình phong xuống, lạnh giọng hỏi Liễu Thê Nguyệt:
“Đây chính là biết báo ân mà ngươi nói sao?”
Liễu Thê Nguyệt quỳ dưới đất, cuối cùng không thể tiếp tục duy trì dáng vẻ phóng khoáng bình tĩnh.
Nàng ta thừa nhận số bạc đến từ cửa hàng của ta, nhưng biện giải rằng mẫu thân đã đồng ý trả thay nàng ta.
Ta lập tức tiếp lời:
“Có thể. Xin mẫu thân ký khế ước nợ.”
Môi mẫu thân động đậy hồi lâu, nhưng không nói nổi một chữ.
Bùi Cảnh Tu định mở miệng thay bà, ta lại sai người trình lên một quyển sổ khác.
“Huynh trưởng dùng năm nghìn lượng của ta để kết giao đồng liêu, trong đó có một nghìn ba trăm lượng tặng cho chủ bạ Ty Hà Vận. Phụ thân đang tuần tra việc vận chuyển đường sông, huynh trưởng lại âm thầm tặng quà cho quan viên phụ trách đường sông. Chuyện này cũng xin được điều tra rõ.”
Chân Bùi Cảnh Tu mềm nhũn, suýt nữa không đứng vững.
Huynh ấy cho rằng mình đang trải đường cho gia tộc, nhưng không biết vị chủ bạ nhận quà kia chính là người phụ thân đang điều tra xử lý.
Một khi khoản một nghìn ba trăm lượng ấy được xác nhận, Bùi gia sẽ bị nghi ngờ thông báo tin tức cho người phạm tội.
Thái hậu không chịu che giấu cho bất kỳ ai nữa, lập tức ra lệnh đình chức Bùi Cảnh Tu, chờ điều tra.
Vệ Tri Hành xông tới trước mặt ta, đỏ mắt hỏi:
“Nàng đã chuẩn bị những sổ sách này từ trước?”
“Phải.”
“Nàng đã sớm đoán được chuyện hôm nay sao?”
“Ta không đoán được Thái hậu sẽ ban hôn. Ta mang sổ vào cung vốn chỉ để ngăn bức bình phong mừng thọ được làm bằng bạc của ta. Còn chuyện các người có đột nhiên phát hiện lương tâm hay không, ta đã sớm không chờ đợi nữa.”
Ta lấy lại hôn thư của Bùi gia từ tay hắn, trước mặt tất cả mọi người xé thành hai nửa.
“Vệ Tri Hành, chàng tự do rồi.”
Ta dừng lại một lát, nhìn sang Liễu Thê Nguyệt.
“Biểu tỷ, cuộc hôn nhân tỷ muốn, ta nhường cho tỷ. Số tiền nợ ta, nhớ trả.”
Không còn ai trong điện dùng câu “không biết nghĩ cho đại cục” để bịt miệng ta.
Hôn sự do chính bọn họ cầu xin, Thái hậu cũng đã gật đầu.
Sau này Vệ gia và Liễu gia muốn giải quyết cuộc hôn nhân này thế nào đều không liên quan đến ta.
Phần 9
Sau tiệc mừng thọ, các quán trà trong kinh thành bàn tán chuyện của Bùi gia và Vệ gia suốt một thời gian.
Để giữ thể diện, Thái hậu không thu hồi ý chỉ ban hôn, nhưng hủy bỏ tước huyện chúa vốn định ban cho Liễu Thê Nguyệt, cũng không nhắc đến chuyện Vệ gia bị đàn hặc vì quản quân không nghiêm nữa.
Vệ gia vốn muốn nhờ cuộc hôn nhân này để có thêm quyền thế, kết quả chỉ chờ được món nợ sáu nghìn lượng của Liễu Thê Nguyệt.
Vệ phu nhân trút giận lên nàng ta.
Nàng ta cũng không chịu tiếp tục giả vờ ngoan ngoãn.
Ngày thành hôn còn chưa được định, hai nhà đã cãi nhau vì của hồi môn đến mức bà mối không dám bước vào cửa.
Những lời đồn ấy không truyền được vào thư phòng của biệt viện.
Ta bận chờ phụ thân trở về kinh, không có thời gian xem náo nhiệt.
Sau khi trở về, phụ thân điều tra rõ sổ sách, trước tiên vào cung thỉnh tội với bệ hạ, sau đó tự mình bù lại chín nghìn lượng đã bị lấy dùng.
Ông thu hồi quyền quản lý nội trạch của mẫu thân, đưa bà đến điền trang ngoài thành tĩnh dưỡng, còn lập gia quy: tài sản riêng của nữ tử trong phủ phải được đăng ký bằng sổ riêng, người quản lý thay phải giao sổ mỗi quý, không được tự ý lấy dùng.
Mẫu thân đến biệt viện cầu xin ta nói giúp bà trước mặt phụ thân.
Bà khóc nói mình chỉ vì áy náy năm xưa không cứu được muội muội ruột, nên mới muốn coi Liễu Thê Nguyệt như nữ nhi ruột để bù đắp.
Bà còn nói Bùi Cảnh Tu là trưởng tử của Bùi gia, bà giúp huynh ấy lo liệu con đường làm quan cũng là vì cả gia đình.
Ta rót cho bà một chén trà, không tìm lý do giúp bà xuống thang.
“Mẫu thân cảm thấy có lỗi với dì thì có thể dùng của hồi môn của mình để bù đắp cho biểu tỷ. Người muốn giúp huynh trưởng thì có thể dùng tiền riêng của mình để lo liệu cho huynh ấy. Nhưng người lấy tiền của ta, còn muốn ta cảm ơn người đã nghĩ cho đại cục.”
Tiếng khóc của mẫu thân lập tức ngừng lại.
“A Hành, mẫu thân biết sai rồi. Con trở về được không?”
“Ta sẽ làm tròn chữ hiếu mà một nữ nhi nên làm, nhưng sẽ không chuyển về. Nếu mẫu thân thật sự biết sai thì hãy ở điền trang từ từ trả sạch từng khoản nợ. Sau này đừng lấy việc yêu thương một người làm lý do để tổn thương người khác.”
Ta vẫn nhận bà là mẫu thân, ngày lễ ngày Tết sẽ đến thăm.
Bà ở điền trang không thiếu ăn thiếu mặc, nhưng không thể tùy tiện xử lý tiền bạc và cuộc đời của người khác nữa, còn phải dùng lợi nhuận từ của hồi môn của mình để từ từ bù vào sổ.
Chuyện của Bùi Cảnh Tu còn phiền phức hơn.
Đại Lý Tự điều tra rõ huynh ấy không biết chủ bạ Ty Hà Vận có liên quan đến vụ án.
Việc tặng quà chỉ nhằm đổi lấy lời tiến cử, huynh ấy không tham gia tham ô.
Có thể miễn tội chết, nhưng không giữ được chức quan.
Huynh ấy bị cách chức ba năm, toàn bộ số bạc đã tặng đều bị truy thu, còn phải làm lại từ công việc văn thư vất vả nhất dưới trướng phụ thân.
Khi đến gặp ta, huynh ấy đã không còn dáng vẻ huynh trưởng đoan chính như trước.
“Năm nghìn lượng kia, ta sẽ trả lại cho phụ thân.”
“Đương nhiên phải trả. Đó là số tiền phụ thân đã bù cho ta thay huynh.”
Huynh ấy cười khổ.
“Muội không chịu nói với ta một câu an ủi sao?”
“Huynh dựa vào tặng quà để đổi lấy con đường làm quan, bây giờ mất chức cũng không tính là bị oan. Huynh trưởng, ta không bỏ đá xuống giếng đã là nghĩ đến tình thân.”
Huynh ấy im lặng rất lâu, sau đó thừa nhận mình vẫn luôn thích Liễu Thê Nguyệt.
Nhưng Liễu Thê Nguyệt muốn gả vào nhà quyền quý, mẫu thân cũng mong dùng hôn sự của nàng ta để liên kết với Vệ gia.
Huynh ấy không dám thổ lộ, nên một mặt giúp nàng ta tranh giành Vệ Tri Hành, một mặt lại vì ghen tuông mà không ngừng gây phiền phức cho Vệ Tri Hành.
Cái gọi là “nghĩ cho muội muội” của huynh ấy thực chất là dùng tất cả mọi người để che giấu sự hèn nhát của mình.
“A Hành, có phải ta rất đáng cười không?”
“Thích ai không phải chuyện mất mặt. Không có can đảm thừa nhận nhiều nhất chỉ xem là hèn nhát. Nhưng huynh dùng tiền của ta và hôn sự của ta để che giấu cho mình, vậy thì đáng hổ thẹn.”
Sau khi rời đi, huynh ấy chủ động xin phụ thân cho đến công trình trị thủy.
Nơi ấy không có tiệc rượu và đường tắt, chỉ có sổ đá chất đầy bàn và danh sách dân phu.
Huynh ấy có thể làm lại cuộc đời hay không, sau này phải dựa vào chính mình.
Phần 10
Khi Lục Ký Minh trình hồ sơ tuần tra dọc đường lên ngự tiền, hắn cũng trình luôn bản kiến nghị “Bàn về việc nữ tử quản lý tài sản” do ta và trưởng tỷ biên soạn.
Trong bản kiến nghị không viết quá nhiều đạo lý lớn lao.
Chúng ta đính kèm biên nhận thu vải, bản sao khế đất và lời khai có dấu tay của các tú nương.
Ở những nơi cùng lập phường hội dệt vải, kho quan nhận được vải chắc chắn hơn, nhưng bạc thu mua lại tiết kiệm hơn.
Ở những thôn cho phép nữ tử thuê đất, những cánh đồng hoang đã mọc lên từng vùng dâu xanh.
Huyện lệnh trước kia lo nữ tử biết chữ sẽ gây chuyện.
Đến cuối năm kiểm tra án mới phát hiện, sau khi làm việc theo khế ước, tranh chấp lại giảm đi rất nhiều.
Người trước ngự tiền chưa chắc quan tâm tú nương đã chịu bao nhiêu ấm ức, nhưng bọn họ hiểu được thuế lương thực và sổ sách kho quan.
Những dấu tay dính mực đỏ cuối cùng cũng có trọng lượng.
Sau khi xem xong bản kiến nghị, bệ hạ cho phép Minh Tâm nữ học tham gia kỳ thi tuyển nữ lại vào năm sau.
Kỳ thi gồm luật học và toán học.
Người có thành tích xuất sắc có thể vào làm việc tại Tư Chức Thự, phòng Độ Chi của Hộ bộ và các nha môn nữ quan địa phương.
Đây vẫn chưa thể xem là khoa cử dành cho nữ tử, số lượng tuyển chọn cũng ít đến đáng thương.
Nhưng cánh cửa son đã mở ra một khe hở thì sẽ có người có thể bước chân vào.
Khi trưởng tỷ mang tin về nữ học, người trước nay luôn bình tĩnh như tỷ ấy cũng đỏ mắt.
Những nữ tử từng bị nói rằng hòa ly xong sẽ không còn nơi nào để đi, biết chữ cũng vô dụng, ôm nhau vừa khóc vừa cười.
Mắt ta cay xè.
Sau khi trở về phòng, ta lập tức liệt kê nội dung ôn thi, mấy ngày liên tiếp đều ở trong thư phòng.
Lục Ký Minh đến đưa đề thi Hộ bộ những năm trước, phát hiện ta nằm ngủ trên bàn, bên tay còn đè nửa chiếc bánh nguội.
Hắn đóng cửa sổ đang bị gió thổi phần phật, thêm dầu vào đèn, để lại một tờ giấy nhắc ta ngày mai còn phải luyện cưỡi ngựa bắn cung, đừng làm hỏng sức khỏe.
Khi ta tỉnh lại, ngoài cửa sổ trời đã sắp sáng.
Mặt sau tờ giấy viết một câu:
“Có thể mời Bùi cô nương làm chấp tử của ta không?”
Ta nhìn hai chữ “chấp tử” hồi lâu, tai dần nóng lên.
Trưởng tỷ bước vào nhìn thấy, cười đầy ẩn ý.
Ta cứng miệng nói có lẽ Lục Ký Minh hẹn ta đi đánh cờ.
Đến phòng cờ, ta mới phát hiện Thượng thư Hộ bộ, Đại Lý Tự khanh và vài vị tiên sinh của nữ học đều có mặt.
Lục Ký Minh nghiêm túc giải thích:
“Phường hội dệt vải của bảy huyện sắp ký khế ước dài hạn với kho quan, cần một người hiểu rõ sinh kế của nữ tử, lại dám tranh giá với Hộ bộ để phụ trách chuyện này. Ta muốn mời nàng làm người chấp khế, gọi tắt là chấp tử.”
Tất cả mọi người trong phòng đều cố nhịn cười.
Ta cầm tờ giấy, chỉ hận không thể nhìn thủng một lỗ trên khuôn mặt lạnh lùng của hắn.
“Lục Thiếu khanh, cách gọi tắt rất hay. Lần sau đừng gọi tắt nữa.”
Vành tai hắn đỏ lên, nhỏ giọng hỏi ta có phải đã hiểu lầm điều gì hay không.
“Không có. Ta chỉ đang suy nghĩ nên trả cho ngài bao nhiêu tiền công.”
Ta lập tức ngồi xuống, thương lượng với Hộ bộ đến khi bóng mặt trời chuyển từ cửa sổ phía đông sang phía tây.
Cuối cùng ta cũng nâng được giá cung ứng cho các tú nương lên một chút, còn giành được một khoản kinh phí dành cho lớp dạy chữ.
Khi ra khỏi cửa, Lục Ký Minh đi theo phía sau ta, hiếm khi có vẻ lúng túng.
“Thật ra ‘chấp tử’ còn có một tầng ý nghĩa khác.”
Ta dừng bước.
Hắn thu lại chút đùa giỡn vừa rồi, nghiêm túc nói rằng hắn có tình ý với ta.
Hắn biết ta vừa từ hôn, cũng biết ta ghét nhất việc người khác mượn danh tình cảm để quyết định thay ta, nên hắn chỉ nói rõ lòng mình, không thúc giục ta trả lời.
Ta đồng ý cũng được, không đồng ý cũng được.
Khế ước của các phường hội và kỳ thi tuyển nữ lại vẫn sẽ tiến hành như cũ.
Ta nhìn vành tai hơi đỏ của hắn, bỗng bật cười.
“Lục Ký Minh, chuyện quan trọng nhất của ta lúc này là kỳ thi.”
“Ta biết.”
“Còn có nữ học, phường hội dệt vải và chuyện tài sản của nữ tử.”
“Ta cũng biết.”
“Vì vậy, ta không có nhiều thời gian dành cho ngài.”
Hắn gật đầu.
“Thời gian còn lại đủ để ta xếp hàng chờ là được.”
Lần này ta không nhịn được, bật cười thành tiếng.
Ta không đồng ý hôn ước, chỉ hứa sau khi thi xong sẽ cùng hắn đến ăn món lẩu thịt dê mới mở.
Tình cảm có thể từ từ xác nhận.
Nhưng cuộc đời không thể dừng lại một chỗ để chờ một câu trả lời.
Phần 11
Vệ Tri Hành đến tìm ta trước ngày khai mạc kỳ thi tuyển nữ lại.
Lúc ấy đã nửa năm trôi qua kể từ ngày ban hôn.
Để trả nợ, Liễu Thê Nguyệt bán hạ giá hàng hóa còn lại trong tú trang, sau đó tiếp quản việc kinh doanh vài cửa hàng của Vệ gia.
Nàng ta quả thực có năng lực.
Nếu chịu làm việc thực tế, chưa chắc không thể bắt đầu lại.
Nhưng nàng ta vội vàng khôi phục thanh danh, vẫn đi khắp nơi tặng y phục và quyên bạc, cuối cùng lại mắc thêm nhiều khoản nợ bên ngoài.
Vệ gia thúc giục nàng ta giao của hồi môn.
Nàng ta lại yêu cầu Vệ gia trả giúp sáu nghìn lượng nợ ta trước.
Hai bên giằng co không xong, cùng ký tên xin Thái hậu thu hồi ý chỉ ban hôn.
Thái hậu đồng ý, nhưng hạ chỉ khiển trách hai nhà lật lọng, không giữ chữ tín.
Vệ gia bán con Chiếu Dạ Bạch, trả sạch hai nghìn lượng thay Vệ Tri Hành, sau đó điều hắn đến biên giới phía bắc, bắt đầu lại từ chức hiệu úy cấp thấp.
Liễu Thê Nguyệt mất lòng tin của các quý phụ trong kinh, Thê Hà tú trang cũng đóng cửa vì sổ sách hỗn loạn.
Không ai trừng phạt bọn họ vì không lựa chọn ta.
Vệ Tri Hành mất chức vì Vệ gia liên tục cầu xin ý chỉ rồi lại thay đổi, còn quản quân không nghiêm.
Liễu Thê Nguyệt mất tú trang vì nàng ta dùng tiền vay mượn để mua thanh danh.
Bọn họ đã quen để người khác gánh chịu hậu quả.
Lần này không còn tìm được ai thu dọn cục diện thay họ nữa.
Vệ Tri Hành chặn ta bên ngoài trường thi, người đã gầy đi rất nhiều.
Hắn không mang hạt dẻ, chỉ ôm một chiếc hộp gỗ cũ.
Bên trong là những món quà sinh thần ta tặng hắn suốt những năm qua: bao cổ tay, thẻ đánh dấu sách, kiếm phổ, còn có một tấm bùa bình an được thêu xiêu xiêu vẹo vẹo.
“A Hành, ta vẫn giữ tất cả.”
“Đó là đồ của chàng, không cần trả lại ta.”
“Ta giữ những thứ này để nói cho nàng biết, cuối cùng ta đã hiểu ai mới là người thật lòng đối xử tốt với ta.”
Ta cảm thấy thật hoang đường.
“Chàng gặp chuyện không thuận lợi mới phát hiện trước đây có người luôn thu dọn hậu quả cho mình. Đây không gọi là hiểu ai thật lòng, chỉ gọi là nhớ nhung sự tiện lợi.”
Hắn sốt ruột bước lên một bước, sau đó dừng lại trước ánh mắt lạnh đi của ta.
“Ta đã từ chối Thê Nguyệt. Chỉ cần nàng đồng ý, ta có thể vào cung thỉnh tội với bệ hạ, có thể từ quan, có thể ở rể Bùi gia. Ta không cần thứ gì cả, chỉ cần nàng trở về.”
“Nhưng ta không cần chàng.”
Ta trả lời dứt khoát, không để lại bất kỳ khoảng trống nào cho hắn hiểu sai.
Vành mắt Vệ Tri Hành đỏ lên.
“Mười năm, nàng thật sự không còn chút lưu luyến nào sao?”
“Ta từng lưu luyến, vì vậy mới cho chàng rất nhiều cơ hội. Bây giờ không còn lưu luyến, cũng bởi vì trong mười năm ấy, chính tay chàng đã dùng hết mọi cơ hội.”
Hắn đột nhiên nhắc đến Lục Ký Minh, hỏi có phải ta đã sớm thay lòng hay không.
Ta lắc đầu.
“Cho dù trên đời không có Lục Ký Minh, ta cũng sẽ không quay đầu. Vệ Tri Hành, khi rời khỏi chàng, ta chỉ muốn lấy lại cuộc đời của mình, không liên quan đến một nam nhân khác.”
Tiếng trống mở cửa trường thi vang lên.
Ta đi lướt qua bên cạnh hắn, không quay đầu.
Hôm ấy thi luật học, đề đầu tiên ta nhận được là: góa phụ không có con, gia tộc bên chồng muốn cướp ruộng của nàng, nên phán xử thế nào?
Sau khi đặt bút, ta gần như không dừng lại.
Ta viết từ luật lệ hiện hành đến tập quán địa phương, sau đó viết những vụ việc thật mình từng chứng kiến dọc đường.
Người góa phụ bị gia tộc bên chồng khiêng mất khung cửi từng ôm con thoi trống ngồi trên bậc cửa suốt một đêm.
Tên của bà không thể xuất hiện trong bài thi, nhưng chuyện bà từng trải qua thì có thể.
Bài thi toán học hỏi về hao hụt trong kho lương.
Ta gảy bàn tính hai lượt, tìm ra khoản báo tổn thất bị ghi trùng trong sổ.
Bài sách luận hỏi nữ tử ra làm quan có trái với phép tắc tổ tiên hay không.
Ta đặt bút viết:
Điều mà phép tắc tổ tiên bảo vệ là giang sơn và sinh kế của bách tính, không phải đặc quyền của một số ít người.
Nữ tử có thể cày ruộng, dệt vải, nộp thuế, có thể thủ tiết nuôi dưỡng người thân.
Đã gánh trách nhiệm với thiên hạ thì không nên bị ngăn cản ngoài cánh cửa báo quốc.
Khi nét bút cuối cùng hạ xuống, ta nhớ đến bát lựu năm bảy tuổi.
Trước kia ta chỉ muốn lấy lại phần thuộc về mình.
Bây giờ điều ta muốn làm là để những cô gái sau này ngồi bên bàn không cần phải chứng minh mình đáng thương hơn ai, hiểu chuyện hơn ai thì mới xứng đáng nhận được một quả lựu.
Phần 12
Ngày công bố kết quả, ta đứng đầu kỳ thi tuyển nữ lại.
Trưởng tỷ xếp thứ ba.
Tỷ ấy vốn không cần tham gia thi.
Với quan hệ và danh tiếng của tỷ ấy, bệ hạ từ lâu đã có ý phong tỷ ấy làm học quan của nữ học.
Nhưng tỷ ấy nói nếu nhóm nữ tử đầu tiên ra làm quan đều dựa vào ân điển, người đến sau sẽ bị chỉ vào sống lưng mà nói chức quan của nữ nhân là do khóc lóc xin được.
Tỷ ấy giống tất cả thí sinh khác, kiểm tra thân phận, vào trường thi, làm bài, đến khi tiếng chuông niêm phong bài vang lên mới bước ra.
Bên dưới bảng có người nghi ngờ tỷ ấy xuất thân từ phủ Quốc công, lại từng là vương phi, thứ hạng chắc chắn được chiếu cố.
Trưởng tỷ lập tức yêu cầu công khai bài thi đã che tên, mời quan viên Tam tỉnh kiểm tra lại.
Kết quả kiểm tra cho thấy bài sách luận của tỷ ấy được đánh giá rất cao, chỉ vì một bài toán thiếu một bước nên mới rơi xuống vị trí thứ ba.
Người nghi ngờ không còn lời nào để nói.
Bệ hạ phong ta làm Tư Chức Thự lệnh, chuyên quản các phường hội dệt vải tại kinh kỳ, khế ước của nữ công và tranh chấp tài sản của nữ tử.
Trưởng tỷ đảm nhiệm chức học quan của nữ học, phụ trách soạn thảo quy chế nữ học tại các châu.
Quan ấn của Tư Chức Thự không lớn, nhưng đóng lên khế ước lại có thể giải quyết được việc.
Chúng ta không cần vào hậu cung làm vật trang trí cho cảnh thái bình.
Chúng ta có thể xuống nông thôn kiểm tra phường dệt, cũng có thể triệu chưởng quầy không chịu giao sổ đến tra hỏi.
Nhậm chức chưa được mấy ngày, ta nhận được một khế ước nợ quen thuộc.
Người mắc nợ là Liễu Thê Nguyệt.
Ta có quan hệ thân thích với nàng ta, theo lệ viết rõ việc xin tránh ở đầu hồ sơ, giao cho phó quan xét xử.
Liễu Thê Nguyệt bán bức bình phong Bách Điểu và số trang sức còn lại, trả được ba nghìn tám trăm lượng.
Hai nghìn hai trăm lượng còn lại nhất thời không thể lấy ra.
Nàng ta đứng dưới công đường, không nhắc đến thân thế, cũng không cầu xin ta vì tình tỷ muội mà gia hạn.
Nàng ta đề nghị đến miền bắc quản lý phường dệt của quan phủ, dùng bổng lộc và tiền chia lợi nhuận để trả nợ.
Nơi đó lạnh giá khắc nghiệt, không có quý nữ kinh thành nào muốn đi, nhưng cũng thiếu nhất người hiểu thêu thùa và biết kinh doanh.
Sau khi phó quan tính toán theo quy định, đã chấp thuận yêu cầu của nàng ta.
Từ đầu đến cuối, ta không đóng dấu trên văn thư phán quyết.
Sau khi xử lý xong công việc, nàng ta đột nhiên hỏi ta:
“Nếu năm xưa ta không tranh giành Vệ Tri Hành, chúng ta có còn là tỷ muội không?”
“Tỷ không thể cướp được một người thật sự kiên định. Chúng ta đi đến hôm nay cũng không chỉ vì hắn.”
Nàng ta cúi đầu.
Ta không làm nhục nàng ta, nhưng cũng không thể nói là đã tha thứ.
Sự tự ti, hư vinh và hiếu thắng của nàng ta đều có nguyên nhân, nhưng không thể bù trừ khoản nợ chiếm đoạt của người khác.
Vài ngày sau, Liễu Thê Nguyệt lên đường đến miền bắc.
Nghe nói sau khi nhậm chức, nàng ta cắt bỏ tất cả những khoản tặng quà phô trương, trả tiền cho tú nương theo từng món hàng, còn tự mình chạy khắp tuyến đường buôn bán.
Mỗi tháng nàng ta đều gửi bạc về.
Khi tờ biên nhận cuối cùng được đưa đến bàn của ta, phường dệt miền bắc cũng truyền tới tin đã bắt đầu có lợi nhuận.
Nàng ta không trở thành tri kỷ của ta, cũng không trở về kinh tranh giành thứ gì với ta nữa.
Món nợ nàng ta thiếu phải trả.
Thanh danh đã mất cũng không có người nhặt lại thay nàng ta.
Nhưng khi nàng ta chịu dùng sức lực vào việc làm ăn chân chính, dưới chân vẫn luôn có đường để đi.
Vệ Tri Hành ở biên giới phía bắc rất nhiều năm.
Trong quân doanh không cho phép hắn chuyện gì cũng dao động.
Nghe nói hắn từng chịu khổ, cũng từng lập công.
Sau này trở về kinh báo cáo công việc, hắn không đến tìm ta nữa.
Hắn nhờ người gửi về bức thư cuối cùng.
Trong thư chỉ có một câu:
“Trước đây phụ nàng, quãng đời còn lại sẽ tự kiểm điểm.”
Ta đọc xong liền đốt đi.
Khi ngọn lửa cuốn qua mép giấy, lòng ta vô cùng bình tĩnh.
Có vài chuyện cũ đã nói xong, không cần tiếp tục chiếm một góc trên bàn sách.
Mẫu thân học được cách tự mình xem sổ ở điền trang, mỗi năm lấy một nửa lợi nhuận trả lại cho phụ thân.
Bùi Cảnh Tu chịu đựng vài năm tại công trình trị thủy, sau đó tham gia tuyển chọn lại, chỉ nhận được chức huyện thừa ở một huyện xa xôi.
Huynh ấy không nhờ người nói giúp, thu dọn hành lý rồi lên đường nhậm chức.
Phụ thân hỏi ta có muốn tha thứ cho bọn họ hay không.
Ta nói mình đã không còn hận, nhưng sẽ không quay lại bàn ăn luôn bắt ta phải nhường quả lựu.
Thừa nhận bọn họ đang thay đổi và thân thiết lại với bọn họ là hai chuyện khác nhau.
Phần 13
Sau khi kỳ thi tuyển nữ lại được thực hiện vài năm, các châu của Đại Chu lần lượt có nữ học.
Người tú nương già đầu tiên điểm chỉ trước mặt ta đã trở thành người đứng đầu phường hội dệt vải địa phương.
Những nữ tử cùng nhau khai khẩn đất hoang đã nhận được khế đất chính thức.
Học sinh nhỏ tuổi nhất của Minh Tâm nữ học cũng thi vào Tư Chức Thự.
Khi nàng ôm sổ sách đến cho ta xem, bên trên được khoanh kín bằng bút son.
Trưởng tỷ không tái giá.
Người khác đoán tỷ ấy bị An Vương làm tổn thương quá sâu, đến nam nhân cũng không muốn nhìn thêm.
Thật ra tỷ ấy chỉ rất yêu thích cuộc sống hiện tại.
Khi trời ấm, tỷ ấy đi tuần tra nữ học, dẫn học sinh xuống nông thôn.
Sau khi tuyết rơi, tỷ ấy ở trong gác ấm biên soạn sách, tiện thể tranh giành kinh phí năm sau với ta.
Sau này An Vương cũng từng cầu xin tái hợp.
Hắn đứng ngoài cổng nữ học, nói nguyện giải tán tất cả cơ thiếp, giao cả vương phủ cho trưởng tỷ quản lý.
Trưởng tỷ chỉ hỏi hắn một câu:
Vì sao hắn vẫn cho rằng một tòa vương phủ đã đủ để đổi lại cuộc đời của tỷ ấy?
An Vương không trả lời được.
Trưởng tỷ quay người bước vào cổng, không gặp lại hắn nữa.
Khi người trong kinh thành nhắc đến Bùi Minh Sương, điều đầu tiên họ nghĩ đến là Minh Tâm nữ học, là bộ khế ước mẫu đã bị nữ tử các nơi sao chép đến cũ nát.
Còn An Vương ngược lại chỉ trở thành một dòng không đáng nhắc tới nhất trong cuộc đời tỷ ấy.
Còn ta và Lục Ký Minh, phải đến sau khi ta vượt qua kỳ thi tuyển nữ lại và đứng vững trong quan trường mới đính hôn.
Trước khi đính hôn, ta liệt kê một trang thỏa thuận:
Không nạp thiếp, tài sản riêng do mỗi người tự quản lý, việc nhà cùng nhau gánh vác.
Khi phải sống xa nhau vì công vụ, không được ngăn cản đối phương.
Bất kỳ bên nào vi phạm thỏa thuận, bên còn lại đều có thể đưa ra yêu cầu hòa ly.
Lục Ký Minh xem xong, bổ sung thêm một điều:
Nếu xảy ra tranh chấp, phải nói rõ trong ngày, không được lấy lý do “vì muốn tốt cho đối phương” để tự ý quyết định thay người kia.
Chúng ta mang bản thỏa thuận đến quan phủ lập khế, làm thành hai bản, mỗi người giữ một bản.
Sau khi thành hôn, hắn điều tra án, ta quản lý các phường hội dệt vải.
Chúng ta có thể vì một điều luật mà tranh cãi không ai chịu nhường ai, nhưng tranh cãi xong vẫn cùng nhau trở về nhà ăn cơm.
Hắn đến châu khác điều tra án, không yêu cầu ta ngừng chức đi theo.
Ta đi tuần tra phường dệt, cũng không coi việc hắn chờ đợi mình là chuyện đương nhiên.
Sau này, một cuộc nghị luận trong triều kéo dài từ sáng sớm đến tận chiều tối.
Cuối cùng, bệ hạ chính thức mở khoa cử dành cho nữ tử, tuyển chọn nhân tài trong các môn luật, toán, nông nghiệp và y thuật.
Ngày công bố kết quả, ta và trưởng tỷ đứng trên bậc cao.
Các nữ tử bước ra khỏi trường thi.
Có người tóc đã điểm bạc, có người mới vừa qua tuổi cập kê.
Áo lụa là đứng sát bên y phục vải thô đã giặt đến bạc màu.
Bọn họ ngẩng đầu nhìn bảng, đôi mắt sáng như dải ngân hà trải rộng trong đêm xuân.
Lục Ký Minh đứng dưới bậc thềm chờ ta, trong lòng ôm một chồng hồ sơ mới về những vụ án tài sản của nữ tử.
Từ xa, hắn giơ chúng lên về phía ta, ra hiệu lại có việc phải làm.
Ta chạm vào miếng ngọc bội mây hạc bên hông.
Ngọc được năm tháng nuôi dưỡng, càng trở nên ôn nhuận.
Miếng còn lại vẫn đeo bên hông trưởng tỷ.
Nhiều năm trước, ta từng vì muốn giữ một miếng ngọc, một vị hôn phu và một phần thiên vị của người nhà mà cho rằng đó đã là toàn bộ cuộc đời mình.
Bây giờ cánh cửa son đã rộng mở.
Gió xuân cuốn những tờ bảng danh sách bay lên, thổi qua phố dài, cũng thổi đến những châu huyện xa hơn.
Ta nâng vạt quan bào, nhanh chóng bước xuống bậc đá.
Phía sau là cánh cửa do chính tay trưởng tỷ đẩy mở.
Trước mặt là người ta lựa chọn yêu thương và sự nghiệp vẫn chưa hoàn thành.
Ở nơi xa hơn, còn có vô số nữ tử đang đi về phía này trên con đường mới.
Tên ta là Bùi Chiếu Hành.
Cỏ hành sinh trưởng trong thung lũng sâu, không vì không có người nhìn thấy mà ngừng tỏa hương.
Lần này, ta không còn chờ đợi ai chia cho mình một tia sáng.
Ta đang cùng bọn họ bước về phía nhân gian rực rỡ thuộc về chúng ta.